Lon Guigoz và Vật của một Thời mlefood, July 17, 2026 Table of Contents Toggle Lon Guigoz Bình ThủyLò Than Lon Guigoz, bình thủy, lò than – vật của một thời bao cấp. Lon Guigoz Đang lướt facebook, tôi chợt thấy hình một lon sữa Guigoz. Tay tôi tự nhiên dừng lại. Những năm đầu đời, đây là người bạn thân mỗi ngày của tôi. Chị tôi kể những năm 1960, sữa bột Guigoz nổi tiếng lắm. Nhà nào có con nít thường mua vài lon đến vài thùng Guigoz. Là con út, tôi được ưu tiên uống Guigoz từ nhỏ. Chị cười nói nhờ tôi mà nhà chất đầy thùng giấy chứa lon Guigoz trống trơn. Gia đình tôi vào Nha Trang, chị tôi vẫn dạy ở Phan Thiết. Khi Nha Trang hiếm hàng, chị mua Guigoz ở Phan Thiết gởi ra. Mỗi ngày má tôi hay các chị pha sữa xong sẽ gọi “Út ơi, vô uống sữa.” Từ một góc nào đó trong nhà tôi “dạ” một tiếng rồi lon ton chạy tới ôm bình sữa, trèo lên giường, nằm tự mút. Chân trái tôi chống lên, chân phải vắt qua, đúng kiểu “vắt chân chữ ngũ”. Chuyện tôi nằm bú bình cho tới bốn năm tuổi thường được các chị nhắc lại để ghẹo tôi. Rồi bác N., bạn thân má tôi, ra chơi và cương quyết chấm dứt vụ bú bình. Bác nói bú bình lâu mỏ sẽ chu, xấu gái. Bác nghiêm lắm, tôi không dám hó hé. Tôi rời bình sữa từ lúc đó, và vài năm sau, xa luôn sữa Guigoz. Sau 1975, sữa Guigoz không còn, nhưng lon Guigoz ở lại. Nó được kêu là lon ghi-gô. Làm bằng nhôm, không rỉ sét, nhẹ nhưng bền, có nắp đậy kín. Má tôi từng dùng nó đựng tôm khô. Cái lon nằm kín đáo trong một góc tủ gạc-măng-rê. Mỗi lần lấy tôm cho má nấu canh, tôi cầu trời cho nó vơi đi chậm thôi. Lâu lâu đi mua phở, tôi thấy người ta dùng nó làm ống đựng đũa. Lon Guigoz @ chuyenxua.net Hè lớp sáu tôi dự khóa học thiếu nhi sáng tác khoảng một tháng. Nhà xa, trời nắng nên tôi xin má ở lại trưa. Mỗi sáng má bới cho tôi một lon ghi-gô cơm và ít thịt kho. Nhà lúc đó không ăn thịt thường xuyên, nhưng riêng tháng đó lúc nào lon cơm của tôi cũng có thịt. Ăn xong tôi cẩn thận rửa sạch sẽ cái lon ghi-gô, rồi mới nằm trên bàn hay ghế ngủ một giấc. Tôi nhớ một cô bạn từng kể hồi lớp sáu bạn theo chị vô Đồng Bò bẻ củi khô về nấu với mùn cưa. Đường mòn ngoằn ngoèo giữa những bụi cây dại rậm rịt. Nhiều người đi củi, nên hai chị em phải đi xa hơn, đi cả ngày mới đủ củi. Trưa ngồi dưới bóng cây, mở lon ghi-gô cơm và bi-đông nước. Tôi hỏi bạn ăn cơm với gì. Bạn cười, “Muối mè, bữa nào sang thì cá cơm khô rim. Ăn hết lon cơm còn thấy thèm.” Lúc đó chị tôi đang dạy một trường trung học ở ngoại ô Nha Trang. Buổi trưa chị cùng vài đồng nghiệp thân thiết đạp xe ra chỗ vắng có bụi tre rủ bóng mát, gần cánh đồng. Lon ghi-gô dỡ ra, thứ đựng bên trong thường giống nhau: cơm muối mè, đôi khi có ít thịt rim. Bàn tay chị còn dính phấn trắng đỡ lấy đáy lon. Mặt nhôm sáng bóng, lành lạnh, mờ mờ lớp mồ hôi và bụi phấn từ tay chị. Chị nói hồi đó công nhân viên chức nhiều người đem lon ghi-gô cơm theo ăn trưa, vì nhà xa đạp về không tiện. Ai không có lon ghi-gô thì tìm mua. May là lon được giữ nhiều, nên mua lại cũng không đắt lắm. Còn bây giờ muốn mua một cái khó lắm, người ta bán nó như bán đồ cổ. Tôi nhìn kỹ tấm hình trước mắt. Cái nhãn giấy có hình chú bé bụ bẫm tôi không nhớ. Nhưng mấy đường cong gồ lên ở giữa lon tôi vẫn chưa quên, hay đúng hơn là tay tôi vẫn nhớ. Bình Thủy Nước sôi o o. “Tách” một tiếng, nút tắt nảy lên. Chị tôi cầm ấm, chế nước sôi vô bình thủy để cạnh đó. “Ủa, chị còn xài bình thủy à?” Chị cười, “Có chớ. Để pha trà hay cà phê, hoặc nấu canh cho nhanh.” Chị hỏi lại, “Nhà em không có bình thủy hả?” Tôi chợt nhận ra mình không tới gần bình thủy từ lâu lắm rồi. Lần đầu tự chế nước vô bình thủy, tôi nhớ tôi có hơi run. Cái ấm lớn đầy nước nặng trĩu, bám đầy lớp bồ hóng đen thui. Thời bao cấp nhà tôi nấu nước bằng củi, mỗi ngày nấu tới mấy ấm, chà rửa kiểu gì cũng không trắng nổi. Bình thủy thì ngược lại, nắp nhựa trắng bóc, thân màu đỏ vẽ hoa, nhìn sang trọng hơn hẳn. Mở nắp bình, tôi dùng hết sức bình sinh kéo cái nút đậy bình lên. “Poóc” một tiếng, hết hồn, may là tay vẫn giữ chặt cái nút. Tôi ngó vô coi còn nước không, thấy mặt mình phản chiếu cong cong trong lớp ruột gương. Chế hết nước trong bình ra chai, tôi cẩn thận để bình xuống nền xi măng như má dặn. Nắm quai ấm bằng cả hai tay, rồi chế từ từ. Nước óc ách va vào thành bình, hơi nước mờ mờ tỏa ra. Tôi căng mắt nhìn. Chế đầy quá, khi đậy nút nước sẽ tràn ra phỏng tay. Cuối cùng, tôi đã chế xong một bình thủy đầy nước mà vẫn yên lành. Bình thủy xưa @ dogocu.vn Ở nhà tôi, bình thủy còn kêu là tẹc-mốt. Chị tôi nói gốc do từ Thermos – tên công ty Đức làm bình thủy hồi đầu thế kỷ 20. Chị tôi, nay đã hơn 80 tuổi, và bà ngoại bạn tôi đều dùng từ này. Đến thời chúng tôi, những năm 1960 về sau, “bình thủy” thông dụng hơn, có lẽ vì lớp ruột bằng thủy tinh tráng bạc ở trong. Sau này còn có “phích nước”, nhưng tôi không biết gốc từ của nó. Trước khi ấm điện bán nhiều, bình thủy lúc nào cũng có mặt trên bàn nước. Bàn nước nhà tôi để trong bếp. Cạnh bình thủy lớn là bình trà và vài chai thủy tinh cao. Nước nóng trong bình thủy để châm trà, nguội chút nữa thì chế vô chai làm nước uống. Cái bàn loang lổ vệt nước, còn bình thủy và chai nước luôn sạch bóng. Không chỉ ở trong nhà, bình thủy còn theo người tới bệnh viện. Tôi nhớ hồi đưa chị dâu tôi đi sinh cháu đầu, má tôi một tay xách giỏ quần áo, một tay xách bình thủy. Lúc tôi theo anh trai vô thăm chị và cháu, ra về má đưa bình thủy cho anh và dặn, “Về chế đầy đem lên liền nghe con.” Tôi hăm hở đòi xách cái bình nhưng anh không cho. Tôi giận anh mấy ngày liền. Đó là đứa cháu đầu tiên của tôi, vậy mà chừng đó cũng không cho tôi làm. Năm trước có lần tôi vô bệnh viện khám, nghi viêm ruột thừa. Bạn tôi làm trong ngành y dặn, “Đem quần áo theo, nếu mổ thì ở lại luôn.” Cổ tới chở tôi đi, bước vô nhà là ngó quanh quất tìm bình thủy. Tôi hỏi đi bệnh viện bây giờ vẫn cần bình thủy sao, cổ cười, “Có chớ sao không. Trừ khi đi bệnh viện tư đắt tiền thì khỏi đem.” Khi tôi học năm cuối đại học, ba tôi bịnh nặng. Tôi về thăm ba những ngày cuối. Thấy cái bình thủy trên bàn nước, tôi lại nhớ hồi học tiểu học. Mỗi lần má kêu tôi chế bình mà ba nghe được, lần nào ba cũng xuất hiện để cứu tôi. Ba nháy mắt rồi nói nhỏ, “Để ba làm cho”. Ba vặn nắp, lấy nút ra nhẹ nhàng, chế nước chậm rãi và chính xác. Tôi chưa bao giờ thấy ba chế nước ra ngoài hay bị tràn. Má đợi ba làm xong mới nói, “Anh chiều con quá sinh hư, lớn lên tay chân lóng ngóng.” Ba chỉ cười. Có lần cháu nội chị tôi ghé nhà chơi. Tôi hỏi, “Con có lần nào chế nước vô bình thủy không?” Cháu hả một tiếng, ngồi ngẩn ra. Tôi nhắc, “Cái bình thủy để trên bàn bếp nhà bà nội đó.” Cháu ừ hử, nhíu mày suy nghĩ. “Chịu, con không nhớ.” Còn tôi vẫn nhớ cách tay ba giữ ấm, tiếng nước chảy từ ấm vào bình và tiếng “poóc” của cái nút vừa mở ra. Lò Than Trưa nay hộp cơm của tôi có thịt nướng. Tự nhiên nhớ không phải cái mùi thịt nướng thơm sực nức mà là cái lò than đỏ rực ngày trước. Bếp nhà tôi lúc nhỏ có hai lò đất. Đất nung đỏ hồng, chỗ trơn, chỗ hơi nhám. Lò chia hai phần, ở giữa là một tấm dày đục lỗ. Thành trên cùng nổi lên ba chấu kê nồi. Lò làm tay, chấu cao không đều. Mỗi lần bắc nồi lên mà thấy hơi lung lay, má và chị tôi thường xê dịch một chút tìm thế, tới khi nồi đứng vững thì thôi. Những thanh ngo mảnh như thân đũa đan xen kẽ thành cái giàn nhỏ. Chị tôi xếp lên những hòn than lớn nhỏ khác nhau, rồi châm giấy đưa dưới giàn. Ngo cháy hừng hực. Rất nhanh giàn ngo sập xuống. Chị giao quạt cho tôi, “Út, quạt đi.” Tôi quạt liên tục. Có hòn than đã đỏ rực một mảnh. Chị đảo chỗ than đỏ lên trên, thêm than rồi biểu tôi quạt tiếp. Tôi thắc mắc, “Sao chị không xếp than một lần luôn?” “Than đầy quá không có gió lọt vô, khó bắt lửa em à.” Than hừng, lửa xanh bừng lên giữa các hòn than, nóng rực. Lúc không mua được ngo, ba tôi chặt cành cây ngoài vườn, bẻ nhỏ phơi khô. Củi cháy chậm hơn ngo, khói cay cả mắt. Hôm nào nhen lò than bằng củi, mặt chị tôi cũng đẫm mồ hôi. Ba đứng ở cửa bếp ngó cái lò, thở dài. Hè năm đó tôi theo đoàn thiếu nhi Nha Trang đi Đà Lạt. Chợ Đà Lạt bán nhiều ngo, tôi mua một khúc to. Tôi giấu nó trong cái bị cói lớn đặt dưới gầm ghế. Về tới nhà, tôi lễ mễ khiêng khúc ngo tới khoe ba. “Con lén mua được khúc ngo nè.” Ba nhìn tôi, không nói gì. Tôi hơi hoảng. Thấy vậy ba cười, xách khúc ngo vô bếp. Tôi thở phào. Những năm ở nhà quê, tôi thường kho cá nục để dành ăn dần. Cô hàng xóm khuyên mua cái lò than. Lần đầu nhen lò, tôi chất thiệt nhiều giấy. Giấy cháy hết, than vẫn không đỏ. Tôi chạy ra cô hàng xóm. Nhà cổ có cái lò nấu rượu tự đắp bằng đất sét khá lớn, than cháy liu riu cả ngày. Cổ gắp cho vài cục than hồng. Tôi đem về bỏ vô lò, xếp than, ra sức quạt. Than bén rất nhanh. Nồi cá nục chẳng bao lâu sau đã sôi lục bục, mùi hành tỏi bốc lên thơm nồng. Có khi cổ nghỉ nấu rượu, không có than mồi. Tôi đi lượm mấy cành khô trong vườn, bẻ nhỏ. Loay hoay một lúc cũng nhen được lò. Có hôm lỡ xếp nhiều than, tôi quạt mỏi tay mà than vẫn đen sì. Vừa gạt mồ hôi trên mặt, tôi vừa thấm thía câu “đầy quá không được” của chị tôi ngày xưa. Hồi nhỏ tôi mê cái lò than nhất lúc má nướng thịt. Sườn non chặt miếng cỡ hai ngón tay đã ướp thấm thía. Than hồng, má gắp từng miếng đặt lên vỉ sắt. Miếng sườn từ từ săn lại, thịt chuyển sang màu nâu vàng. Thỉnh thoảng mỡ nhỏ xuống than xèo một tiếng. Tôi hít hà mùi thịt nướng. Nhà đông, thịt ít, tôi ăn một miếng sườn hết một chén cơm. Tôi xin chị thêm chén nữa. Má lẳng lặng gắp thêm cho tôi một miếng. Sau này tôi mới biết đó là phần của má. Miếng thịt nướng bây giờ to hơn miếng thịt sườn hồi đó. Tôi nhai chậm rãi. Trong đầu vẫn thấy một lò than hồng và bàn tay cầm đũa trở thịt của má. Sườn nướng lò than I Bếp của vợ, “Sườn heo nướng than”, YouTube mlefood – Minh Lê NT Facebook: https://www.facebook.com/leminhnt.le An English translation of this essay has been completed. It is currently unavailable online because it is being reserved for potential publication elsewhere. Home Tiếng Việt Việt Nam V: Ký ức và Trải nghiệm
English Clam Rice, Fried Rice, Scraped-pan Rice September 24, 2025September 24, 2025 Leftover rice reborn into Hue-style clam rice and others. Read More
Home P3 Khoáng Đạt Chè Thưng September 29, 2023August 20, 2025 Khi điều kiện kinh tế thay đổi, Chè Thưng đã biến chuyển ra sao để thích nghi? Read More